Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 2 tháng 1, 2022

Để không “đứng cho vay, quỳ xin lại tiền”, hãy học người khôn khoan để nói 1 câu này khi bất ngờ bị hỏi

Vay tiền là một cuộc giao dịch rủi ro vì vậy hãy khôn khéo hỏi câu này đầu tiên để tránh tình trạng “có vay mà không có trả”.
Chúng ta đều biết rằng tiền bạc là bước đệm cho một mối quan hệ. Tiền có thể làm cho tình cảm giữa con người trở nên khăng khít hơn, nhưng cũng có thể khiến cho mọi thứ đổ vỡ trong phút chốc. Đừng vay tiền của bạn mình một cách dễ dàng rồi quên mất, trừ khi bạn muốn mất đi người đã giúp đỡ mình.
Trong cuộc sống đã có rất nhiều trường hợp cho người khác vay tiền nhưng không được trả lại đúng hạn dẫn đến xích mích và mất lòng nhau. Dưới đây là một câu chuyện như thế:
Tháng trước, một người bạn hỏi vay tiền của Tiểu Lý. Dù không dư giả gì và chỉ còn đúng 40.000 tệ trong ví, nhưng thấy người bạn lâu năm của mình cần tiền gấp nên anh mới hỏi: "Cậu cần bao nhiêu?"
Người bạn này nói: "Tớ còn thiếu 80.000 tệ là có thể hoàn tất thủ tục mua nhà. Cậu có thể cho tớ vay 40.000 trước được không, sau này tớ trả". Tiểu Lý nghe vậy đã cho bạn vay 30.000 tệ, còn 10.000 giữ lại phòng thân.
Thế nhưng gần đây, anh không thể liên lạc với người bạn này để lấy lại số tiền đã cho mượn. Bằng cách này hoặc cách khác, người này luôn có lý do để tránh mặt Tiểu Lý. Sau cùng, anh buồn rầu nhận ra lòng tốt của mình đã bị lợi dụng mà chẳng hay.
Ở câu chuyện trên, thực ra ngay khi Tiểu Lý hỏi câu: "Cậu cần vay bao nhiêu?" thì tiền bạc của anh đã ''nằm sẵn'' trong túi người khác rồi.
"Vay bao nhiêu?" là câu mà những người nhẹ dạ cả tin thường hỏi đầu tiên khi có người tìm đến vay tiền. Chính vì vậy, khi ai đó hỏi vay tiền, đừng vội hỏi câu đó ngay mà hãy ghi nhớ điều sau đây để gia tăng khả năng lấy lại tiền và hạn chế rủi ro "tiền bay đi mất".
Đầu tiên, hãy hỏi người kia mục đích và lý do vay. Sau đó, đừng quên hỏi thời điểm mà họ trả tiền. Đây là nguyên tắc quan trọng khi ai đó vay tiền bạn, nếu lý do phù hợp thì bạn có thể giúp họ trong khả năng của bản thân, còn không thì nên từ chối khéo léo hoặc giảm số tiền cho vay càng ít càng tốt. Nên nhớ ấn định một mốc thời gian nhất định để người mượn trả tiền, tránh tình trạng họ "vay mà không có ý định trả".
Nếu lý do đối phương vay tiền là để đầu tư hoặc muốn sử dụng tiền như một giá trị gia tăng, độ rủi ro rất cao thì tốt nhất bạn đừng cho vay. Trong những trường hợp này, người kia thường dễ bị lún sâu và muốn đầu tư lâu dài, nhỡ mất trắng thì lấy đâu ra tiền trả lại cho bạn?
Chỉ có hai tình huống đáng để cho người khác vay tiền:
Thứ nhất là để cứu người. Tức là khi có người thân quen cần tiền gấp để xoay sở khi sức khỏe có vấn đề hay những việc cấp thiết khác, lúc này, bạn có thể dốc hết sức lực cho người ấy vay.
Tình huống thứ hai là khi bạn biết và hiểu rõ tính cách của đối phương. Nếu họ là người uy tín, minh bạch, họ sẽ trả tiền cho bạn đúng thời hạn thì hãy cho vay. 
Còn nếu không, hãy học cách từ chối lịch sự.Từ chối cũng là một kỹ năng quan trọng đòi hỏi sự khéo léo và EQ cao. Nếu từ chối mà không thuận lòng đôi bên sẽ khiến mối quan hệ của cả hai xấu đi, thậm chí là trở mặt, từ bạn hóa thành thù.
Nhiều người luôn nghĩ rằng mối quan hệ giữa hai bên đã đủ quen biết hay bền chặt thì đối phương sẽ sẵn lòng cho mình vay tiền bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, tiền bạc luôn là vấn đề nhạy cảm, là thứ khó tạo ra nhưng ai cũng cần.
Hãy đặt ra nguyên tắc cho bản thân và kiên định với nguyên tắc đó, đôi khi không cần phải giữ thể diện, đối phương có thể trở mặt với bạn vì chuyện vay tiền nhưng cũng đừng quá bận tâm. Trong cuộc sống hiện đại, nhiều người càng muốn dùng tiền để đầu tư sinh lời thay vì cho mượn mà không có lãi suất. Nếu bạn bị một người giận dỗi hoặc quay lưng vì không cho người đó vay thì mối quan hệ này có lẽ cũng không cần thiết để tiếp tục nữa.
Ánh Lê
Theo Nhịp sống kinh tế

Đàn ông muốn nhanh giàu có, muốn công thành danh toại nhất định phải “nhờ” đến 5 người này: Nếu có duyên gặp thì nhất định phải “trân trọng” h

Có 5 kiểu người mà mọi doanh nhân đều cần phải “tìm đến” nếu muốn thành công.
Thành công của mỗi người không chỉ được tạo nên bởi sự thông minh, kiên trì, quyết đoán hay sự nỗ lực của bản thân mỗi người mà còn phụ thuộc vào những người xung quanh bạn. Họ là tiền đề, là bàn đạp, chỗ dựa cũng như là những kẻ gieo “sóng gió” cho bạn, giúp bạn gặt hái được những thành quả trong công việc cũng như trong cuộc sống.
1. Cao nhân chỉ lối
Trong công việc hay bất cứ vấn đề gì trong cuộc sống, chúng ta đều cần sự hướng dẫn của một “chuyên gia” trong lĩnh vực đó khai ngộ, giống như học sinh cần giáo viên vậy.
Đằng sau một người thành công luôn là một cao nhân chỉ lối. Một người dù có tài năng mưu lược đến đâu, khi đứng trước nhiều ngã rẽ hay cám dỗ đều khó lòng mà không nghiêng ngả, đi chệch hướng. Những lúc như thế, họ cần một cao nhân ở sau chỉ giáo, những người này thường có cái nhìn khách quan cũng như đã có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống, bởi thế mà góc nhìn của họ sẽ “tỏ” hơn người trong cuộc.
Vậy nên trong công việc hay bất cứ vấn đề gì trong cuộc sống, chúng ta đều cần sự hướng dẫn của một “chuyên gia” trong lĩnh vực đó khai ngộ, giống như học sinh cần giáo viên vậy. Giáo viên giỏi và có tâm sẽ tạo ra học sinh giỏi. Nếu bạn muốn đạt được thành công trong sự nghiệp, bạn phải có một chuyên gia hướng dẫn để giúp bạn giải đáp mọi thắc mắc và giúp bạn xây dựng lộ trình rõ ràng để đi đến đích một cách nhanh chóng và suôn sẻ nhất.
2. Quý nhân phù trợ
Từ xưa đến nay, người làm việc lớn chẳng mấy ai mà không gặp qua những khó khăn, trắc trở. Dù là tiền bạc hay vật chất, kiến ​​thức hay kỹ năng, nếu không có ai giúp đỡ thì khó mà thành công được. Những lúc như vậy, nếu có người đứng ra cứu nguy thì họ chính là “quý nhân” của bạn.
Bất cứ ai trong chúng ta khi đang gặp khó khăn chật vật đều luôn mong mỏi quý nhân xuất hiện. Tuy nhiên trên đời này, muốn gặp được những người như thế không phải là điều dễ dàng, nếu bạn may mắn được quý nhân phù trợ thì đó là nhân duyên tốt đẹp bạn đã “tích góp” được. Chăm làm việc tốt thì sẽ gặp điều lành, khi gặp nạn sẽ có người tương trợ.
Nếu bạn được sinh ra trong một gia đình có điều kiện, có thể dựa vào thế hệ đi trước để có được tài chính vững chắc và sự nghiệp ổn định, trong trường hợp này bố mẹ chính là quý nhân của bạn.
3. Người thân là chỗ dựa vững chắc
Đằng sau mỗi người đàn ông thành đạt là bóng dáng của người phụ nữ chu toàn.
Người ta nói, đằng sau mỗi người đàn ông thành đạt là bóng dáng của người phụ nữ chu toàn. Nhưng không chỉ cần có bạn đời, mà cả bố mẹ, con cái cũng là những “nhân tố” góp phần tạo nên động lực cho chúng ta cố gắng.
Họ không chỉ là điểm tựa tinh thần mà còn là những người đồng cam cộng khổ mỗi khi chúng ta gặp khó khăn. Chỉ khi gia đình hòa thuận, êm ấm thì bạn mới an tâm làm việc, mới có ý chí và năng lượng để kiếm tiền.
4. Đối thủ giúp bạn không ngủ quên trong chiến thắng
 Nơi làm việc luôn có nhiều cạm bẫy và cạnh tranh. Tuy nhiên, nếu không có ai coi bạn là đối thủ thì đừng nên ngồi rung đùi vì thấy an toàn, mà điều này chỉ chứng tỏ bạn là một kẻ vô dụng và không đáng để quan tâm.
Mỗi người xuất hiện trong cuộc đời bạn đều là có lý do. Nếu đối thủ xuất hiện và đẩy bạn xuống thì hãy lấy đó làm động lực để vươn lên. Chẳng ai thích để bản thân thua kém người khác, nên họ chính là lý do để bạn cố gắng hơn, cũng là lý do giúp bạn không ngủ quên trong chiến thắng của mình.
Còn làm thế nào để thành công ư? Để đạt được sự nghiệp thăng tiến, trước tiên bạn phải trở thành đối thủ của người khác.
5. Tiểu nhân giúp bạn thức tỉnh
Không thể phủ nhận một điều rằng nhiều người thành công thường hay bị những kẻ tiểu nhân đố kỵ, chèn ép.
Không thể phủ nhận một điều rằng nhiều người thành công thường hay bị những kẻ tiểu nhân đố kỵ, chèn ép. Tuy nhiên, nếu không có những kẻ xấu xa với nhiều thủ đoạn, toan tính đó thì bạn sẽ khó thoát khỏi phạm vi an toàn của bản thân và có thể bị đóng khung trong một khuôn mẫu nhất định.
Có cạm bẫy, bạn mới suy tính công việc và đối nhân xử thế một cách thận trọng hơn. Khi đạt đến thành công, những kẻ xấu xa đến nịnh hót bạn, bạn sẽ luôn cảnh giác và tỉnh táo. Nếu không có sự “trợ giúp” của kẻ xấu thì làm sao bạn có thể trở thành một “chiến thần” thông thái và tự tin?
Ánh Lê
Theo Nhịp sống kinh tế

3 loại tiền người khôn không cho vay, kẻ dại ngại chối từ

Bài học giá trị từ bậc hiền nhân Vương Dương Minh, trước khi bước qua tuổi trung niên cần sớm hiểu được đạo lý này.
Hiền nhân Vương Dương Minh không những xuất chúng trên phương diện chính trị, tư tưởng mà còn là nhà triết học xuất sắc nhất thời Minh và được đánh giá là một trong những nhà hiền triết vĩ đại nhất trong lịch sử Trung Quốc.
Những bài học và lời dạy của ông cho đến ngày nay vẫn giữ nguyên được những giá trị của nó.
Theo đó, ông cho rằng có 3 loại tiền nhất định không được tùy tiện cho vay, người không biết từ chối sẽ tự chuốc lấy những ưu phiền.
3 loại tiền người khôn không cho vay
Trước khi bước qua tuổi trung niên cần sớm hiểu được đạo lý này để tránh những muộn phiền không đáng có.
Không cho vay tiền đánh bạc
Bao đời nay, tiền bạc luôn là vấn đề nhạy cảm có thể khiến chúng ta đánh mất đi tình thân, tình bạn một cách dễ dàng. Chính vì vậy, khi động chạm đến vay mượn tiền bạc, chúng ta cần lưu ý xử lý một cách khéo léo, hợp tình hợp lý.
Tuy nhiên, nếu người thân hoặc bạn bè muốn vay mượn tiền để đánh bạc thì không nên ngại ngùng mà hãy dứt khoát từ chối, đồng thời thể hiện rõ lập trường của mình.
Vì nếu bạn cho vay một lần hoặc chỉ dám từ chối khéo léo thì những lần sau họ vẫn sẽ tiếp tục tìm đến và đòi vay tiền bạn. Mà như chúng ta đã biết, việc đốt tiền vào những canh bạc luôn “chỉ có đi mà ít có về”, vì những đồng tiền không chính đáng được thu về từ đây sớm muộn cũng “của thiên trả địa”. Hơn nữa việc cho bạn bè hoặc người thân vay tiền đánh bạc còn gián tiếp hủy hoại tương lai của người đó.
Chính vì vậy, tuyệt đối không nên cho vay tiền đánh bạc. Vì điều này vừa khiến chúng ta tiền mất tật mang lại làm hại người khác.
Không cho vay tiền khởi nghiệp
Từ cổ chí kim, việc vay mượn tiền để làm ăn buôn bán hoặc kinh doanh luôn là điều dễ gặp. Tuy nhiên, nếu bạn không phải một dân chuyên làm ăn và vững kinh tế thì không nên cho vay.
Vì như chúng ta đã biết, đại đa số những cá nhân, công ty khởi nghiệp đều gặp rất nhiều khó khăn và dễ gặp rủi ro, thậm chí tỉ lệ phá sản và thất bại là vô cùng cao.
Do đó, đây là khoản tiền cho vay may rủi, không nên cho vay nếu bạn không đủ điều kiện. Vì dễ khiến cả hai bên rơi vào trường hợp khó xử nếu không may làm ăn thua lỗ. Khoản tiền cho vay vì vậy mà cũng không biết bao giờ mới có thể lấy lại, mối quan hệ giữa đôi bên cũng dễ vì điều này mà rạn nứt.
Không cho vay tiền vì sĩ diện
Trong cuộc sống rất dễ gặp trường hợp nhiều người dù không có đủ điều kiện nhưng vẫn cho vay tiền vì sĩ diện hoặc do ngại không biết từ chối như thế nào.
Tuy nhiên, khi bạn cho vay tiền vì thể diện như vậy vô tình đã khiến bản thân rơi vào thế bị động và dễ bị người khác lợi dụng.
Để tránh trường hợp như vậy, khi một người hỏi vay tiền, thay vì đặt câu hỏi “bạn muốn vay bao nhiêu” lên đầu tiên. Các bạn nên đặt câu hỏi “bạn vay tiền để làm gì?” để nắm được mục đích vay tiền của họ và cân nhắc thật cẩn thận có nên cho vay không.
Theo đó, hiền nhân Vương Dương Minh cho biết, nếu không phải vay tiền vì bệnh tật hay thiên tai địch họa thì tốt nhất không nên cho vay. Vì những khoản tiền giúp đỡ khi người ta gặp khó khăn như vậy sẽ luôn giữ được đúng giá trị của nó mà không bị biến tướng hay làm xấu đi. Gặp những trường hợp như vậy thì nên cho vay và giúp đỡ.
Ngoài ra, có một điểm các bạn đặc biệt lưu ý. Đó là không được ngại khi đặt câu hỏi “bạn vay tiền trong bao lâu thì sẽ trả?”. Vấn đề này cần phải làm rõ ràng đôi bên, có thể như vậy sẽ khiến chúng ta bị mất lòng trước nhưng sẽ được lòng sau. Vì vậy đôi bên nhất định phải hỏi và làm rõ vấn đề khi nào trả tiền. Nên nhớ, vấn đề tiền bạc nhạy cảm cần phải xử lý khéo léo nhưng luôn phải sòng phẳng và công bằng.
Trên đây là 3 loại tiền người khôn không cho vay, chỉ kẻ dại ngại chối từ. Mong rằng trước khi bước qua tuổi trung niên, chúng ta đều nắm được những đạo lý này để tránh thiệt mình hại người.
Theo Tiểu Lam
Trí Thức Trẻ


Thứ Sáu, 10 tháng 12, 2021

Biểu hiện lâm sàng của SARS-CoV-2

Sửa đổi nội dung lần cuối cùng Thg6 2021



Bài của bác sĩ, giáo sư phụ tá y khoa Matthew E. Levison, Trường cao đẳng Dược của Đại học Drexel

14/2/2021

Bệnh hệ thống đa cơ quan
Phổi là mục tiêu chính của SARS-CoV-2. Tuy nhiên, SARS-CoV-2 cũng gây tổn thương cho nhiều hệ thống cơ quan khác như tim, thận và gan. Việc hiểu được rằng COVID-19 là một bệnh hệ thống đa cơ quan có vai trò rất quan trọng đối với việc xử trí trên lâm sàng của bệnh.
Biểu hiện lâm sàng của COVID-19 rất rộng, từ không có hoặc có triệu chứng không đáng kể đến viêm phổi nặng do vi-rút kèm theo suy hô hấp, rối loạn chức năng hệ thống đa cơ quan, nhiễm trùng huyết và tử vong. Có tới 40 đến 45% số những người bị nhiễm bệnh không có triệu chứng khi được xét nghiệm vi-rút, nhiều người trong số họ vẫn không có triệu chứng, nhưng tuy nhiên lại loại vi-rút ra khỏi đường hô hấp trên và có khả năng truyền vi-rút cho người khác (1). Các bệnh nhân khác có triệu chứng với thời gian ủ bệnh trung bình khoảng 5 ngày, trong khoảng từ 2 ngày đến 14 ngày, sau khi phơi nhiễm (2).
May mắn thay, khoảng 80% số những người bị nhiễm sẽ mắc bệnh nhẹ, có thể được xử trí ngoại trú; 15% số người mắc bệnh nặng hơn (khó thở, thiếu oxy máu hoặc > 50% phổi có ảnh hưởng trên chẩn đoán hình ảnh) sẽ cần phải nằm viện và 5% số người khác mắc bệnh nguy kịch (suy hô hấp, sốc hoặc rối loạn chức năng hệ thống đa cơ quan) sẽ cần phải nhập viện vào khoa Hồi sức Tích cực (3). Tỷ lệ tử vong/ca nhiễm trên toàn cầu là khoảng 4%, nhưng tỷ lệ này thay đổi tùy theo đặc điểm nhân khẩu học của quần thể ở địa phương. Mọi lứa tuổi đều dễ bị nhiễm bệnh, nhưng mức độ nặng và nguy cơ tử vong tăng lên ở người cao tuổi, ở người nghèo, ở quần thể người Da đen và người Latinh và ở những người có một số bệnh nền mắc sẵn từ trước, chẳng hạn như béo phì, tiểu đường, tăng huyết áp và bệnh phổi và bệnh tim mạch.
Tuy nhiên, một số người bị nhiễm bệnh hoàn toàn không có triệu chứng có thể có độ bão hòa oxy trong máu thấp, được gọi là “tình trạng thiếu oxy máu thầm lặng” và có thể có bằng chứng về sự liên quan của phổi trên hình ảnh chụp ngực khi những nghiên cứu này được thực hiện, ví dụ như khi thấy trên bệnh nhân trong một trường hợp ER đối với một vấn đề không liên quan như chấn thương (4). Tình trạng tăng CO2 máu hiếm gặp ở những bệnh nhân này, điều này có thể giải thích tại sao những bệnh nhân mắc COVID-19 có thể không kêu khó thở cho đến khi bệnh phổi của họ tiến triển nặng và tình trạng thiếu oxy máu nặng.
Sốt, ớn lạnh, mệt mỏi, ho khan, chán ăn, đau cơ, tiêu chảy và tiết nhiều đờm là những triệu chứng thường gặp. Không ngửi thấy mùi (mất khứu giác) và mất vị giác (loạn vị giác) cũng thường được báo cáo. Đau họng, nghẹt mũi và chảy nước mũi ít phổ biến hơn. Một số cá nhân vẫn còn sống. Những người khác có các triệu chứng nhẹ trong 8 đến 9 ngày, cho đến khi khởi phát đột ngột hoặc khó thở trầm trọng hơn (khó thở) sẽ cần phải đến khám ER. Có thể cần hỗ trợ thông khí ngay sau khi bắt đầu khó thở (trung bình là 2,5 ngày).
Mối liên quan về tim được biểu thị bằng nồng độ troponin tăng cao và những bất thường trên điện tâm đồ và siêu âm tim (5). Nhiễm SARS-CoV-2 có thể làm mất ổn định các mảng xơ vữa động mạch vành trước đó không có triệu chứng hoặc có thể gây hình thành cục máu đông trong các mạch vành, dẫn đến tắc nghẽn lưu lượng máu ở động mạch vành. Đã có nghi ngờ viêm cơ tim do SARS-CoV-2 nhưng không được chứng minh bằng sinh thiết. cho đến nay vẫn chưa được mô tả. Trong khi các báo cáo ban đầu cho rằng bệnh nhân bị COVID-19 có tỷ lệ bị ngừng tim và rối loạn nhịp tim cao, một nghiên cứu ở 700 bệnh nhân liên tiếp nhập viện tại Hospital of the University of Pennsylvania (Bệnh viện Đại học Pennsylvania) trong hơn 9 tuần đã kết luận rằng rối loạn nhịp tim có khả năng là do bệnh lý toàn thân chứ không phải chỉ do những ảnh hưởng trực tiếp của nhiễm COVID-19 (6).
Một số bệnh nhân xuất hiện protein niệu và suy thận cấp tính. Khoảng 15% đến 30% số bệnh nhân bị COVID-19 ở khoa Hồi sức Tích cực cần phải dùng liệu pháp thay thế thận. Trong khi khám nghiệm sau tử vong, đã thấy tổn thương ống lượn gần cấp tính trên mô học thận, với các hạt giống như coronavirus trong tế bào chất của biểu mô ống lượn gần và tế bào có chân, các vị trí biểu hiện ACE2 đã biết (7). Sự liên quan của gan được biểu thị bằng nồng độ alanin aminotransferase và aspartate aminotransferase huyết thanh tăng cao.
COVID-19 thường phức tạp do bệnh đông máu, với nồng độ D-dimer tăng cao, nhưng không giống như đông máu nội mạch lan tỏa (DIC) liên quan đến nhiễm trùng huyết, chảy máu đáng kể là bất thường, thời gian prothrombin và thời gian thromboplastin từng phần bình thường hoặc kéo dài nhẹ, nồng độ fibrinogen thường tăng và số lượng tiểu cầu bình thường hoặc giảm nhẹ (8, 9, 10). Các báo cáo mô tả tần suất cao của thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch và bệnh học phổi cho thấy huyết khối vi mạch rõ rệt liên quan đến viêm mô kẽ và phế nang rộng, điều này cho thấy đông máu góp phần gây suy hô hấp trên những bệnh nhân này.
Suy giảm chức năng thần kinh thường gặp ở COVID-19. Một nghiên cứu trên toàn quốc ở Anh cho thấy những bệnh nhân COVID-19 được chẩn đoán với tình trạng tâm thần thay đổi, rối loạn tâm thần mới khởi phát, suy giảm nhận thức thần kinh (giống như chứng mất trí nhớ) và rối loạn cảm xúc (11). Các bệnh nhân cũng đã được báo cáo bị viêm não và PCR CSF dương tính với SARS-CoV-2 (12) và bệnh não hoại tử cấp tính (13). COVID-19 có thể gây đột quỵ do thiếu máu não cục bộ; những bệnh nhân này được phát hiện trẻ hơn, có các triệu chứng trầm trọng hơn và có khả năng cơ tử vong cao hơn ít nhất bảy lần so với những người bị đột quỵ không liên quan đến COVID-19 (14). Bệnh nhân cần phải thở máy kéo dài và/hoặc nằm ở khoa Hồi sức Tích cực có thể bị các triệu chứng bao gồm mệt mỏi mạn tính, thay đổi khả năng nhận thức, PTSD và rối loạn cảm xúc.
Giảm bạch cầu lympho là phát hiện trong phòng thí nghiệm phổ biến nhất trên những bệnh nhân COVID-19 nằm viện và có liên quan đến bệnh nặng. Tăng ferritin huyết thanh rõ rệt xảy ra trên những bệnh nhân bị COVID-19 nặng, phức tạp bởi “bão cytokine”, được xác định qua sự phóng thích quá mức và không kiểm soát của các cytokine tiền viêm (IL-2, IL-6, IL-10 và TNF-α) và các chất chỉ điểm viêm như protein phản ứng C và máu lắng. “Bão cytokine” trong COVID-19 xuất hiện muộn hơn trong quá trình ở bệnh viện được báo cáo sau khi có cải thiện lâm sàng ban đầu và có liên quan đến tổn thương phổi trầm trọng hơn, suy đa cơ quan và tiên lượng không thuận lợi.
Các triệu chứng COVID-19 ở trẻ em
Hầu hết trẻ em không có triệu chứng hoặc có biểu hiện các triệu chứng nhẹ khi bị nhiễm COVID-19, nhưng vào cuối tháng Tư năm 2020, lần đầu tiên ghi nhận một số trẻ em mắc bệnh được gọi là hội chứng viêm đa hệ thống ở trẻ em (MIS-C), một biểu hiện mới của COVID-19 mới, có một số đặc điểm tương tự như bệnh Kawasaki (nhưng, không giống như bệnh Kawasaki, xảy ra ở nhóm tuổi lớn hơn), hội chứng sốc nhiễm độc do tụ cầu và liên cầu, nhiễm trùng huyết do vi khuẩn và hội chứng kích hoạt đại thực bào (15).
Trẻ em bị ảnh hưởng (từ 2 đến 16 tuổi) bị sốt kéo dài, mệt mỏi, đau họng, nhức đầu, đau bụng và nôn ói, có liên quan đến nhiều cơ quan (ví dụ như tim, tiêu hóa, thận, huyết học, da liễu, thần kinh), tiến triển nhanh đến sốc và rối loạn chức năng cơ quan. Một nghiên cứu ở Anh bao gồm 58 bệnh nhân bị MIS-C và phát hiện ra rằng tất cả trẻ em đều có biểu hiện sốt và các triệu chứng không đặc hiệu bao gồm đau bụng, tiêu chảy, nôn ói, phát ban và viêm kết mạc, mỗi biểu hiện xảy ra ở khoảng 50% số bệnh nhân (16). Không giống như người lớn bị COVID-19, chỉ một phần ba số trẻ có các triệu chứng về đường hô hấp. Hầu hết có rối loạn chức năng tâm thu thất trái và một số bị giãn hoặc phình động mạch vành. Kết quả xét nghiệm cho thấy protein phản ứng C (CRP) tăng, ferritin tăng, giảm bạch cầu lympho và tăng D-dimer và một số có nồng độ troponin và peptide natri lợi niệu não (BNP) tăng, gợi ý tổn thương tim. Một số có tăng creatinin huyết thanh. Một số cần phải có hỗ trợ tuần hoàn hoặc hô hấp hoặc hiếm gặp là trao đổi oxy qua màng ngoài cơ thể.
Tính đến ngày 8 tháng Một năm 2021, có 1.659 trường hợp ở Hoa Kỳ đáp ứng định nghĩa ca bệnh về MIS-C, với 26 trường hợp tử vong; 99% số trường hợp có xét nghiệm dương tính với SARS CoV-2, 1% số trường hợp còn lại tiếp xúc với người bị COVID-19. Hầu hết trẻ em bị MIS-C từ 2 đến 4 tuần sau khi nhiễm SARS-CoV-2, và hơn 70% số trường hợp xảy ra ở trẻ em là người gốc Tây Ban Nha hoặc Latinh hoặc Da đen, không phải gốc Tây Ban Nha (17).
Hầu hết bệnh nhân đã được điều trị bằng globulin miễn dịch theo đường tĩnh mạch và một số bệnh nhân được điều trị bằng steroid và heparin theo đường tĩnh mạch. Xét nghiệm huyết thanh học cần phải được thực hiện trước khi sử dụng IVIG hoặc bất kỳ phương pháp điều trị bằng kháng thể ngoại sinh nào khác.
Bệnh nhân dưới 21 tuổi đáp ứng tiêu chuẩn MIS-C của CDC (18) cần phải được báo cáo cho sở y tế địa phương, tiểu bang hoặc lãnh thổ. Các tiêu chuẩn MIS-C của CDC là:
Sốt (> 38,0°C trong ≥ 24 giờ hoặc báo cáo theo chủ quan về sốt kéo dài ≥ 24 giờ), bằng chứng xét nghiệm về viêm (tăng CRP, tốc độ máu lắng, fibrinogen, D-dimer, ferritin, lactate dehydrogenase, IL-6, hoặc tỷ lệ bạch cầu trung tính/tế bào lympho; albumin thấp) và bằng chứng về bệnh nặng trên lâm sàng cần phải nằm viện, kèm theo liên quan cơ quan đa hệ thống (> 2) (tim, thận, hô hấp, huyết học, tiêu hóa, da liễu hoặc thần kinh); VÀ
Không có chẩn đoán chính đáng thay thế; VÀ
Dương tính với nhiễm SARS-CoV-2 hiện tại hoặc gần đây bằng xét nghiệm RT-PCR, huyết thanh học hoặc kháng nguyên; hoặc tiếp xúc với một trường hợp có nghi ngờ hoặc đã xác nhận COVID-19 trong vòng 4 tuần trước khi bắt đầu các triệu chứng
Di chứng lâu dài của COVID-19
COVID-19 thường là bệnh trong thời gian ngắn. Những người có các triệu chứng nhẹ thường hồi phục trong khoảng 2 tuần, trong khi những người bị bệnh nặng hoặc nguy kịch sẽ hồi phục sau 3 đến 6 tuần. Tuy nhiên, ở một số bệnh nhân, các triệu chứng suy nhược vẫn tồn tại trong nhiều tuần hoặc thậm chí nhiều tháng. Ở một vài trong số các bệnh nhân này, các triệu chứng chưa bao giờ hết.
Nhiều nghiên cứu đã ghi nhận tổn thương kéo dài đối với nhiều cơ quan hoặc hệ thống, bao gồm phổi, tim, não, thận và hệ thống mạch máu, trên bệnh nhân bị nhiễm SARS-CoV-2. Tổn thương dường như do các đáp ứng viêm nặng, bệnh vi mạch huyết khối, thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch và thiếu oxy gây ra. Tổn thương nội tạng đã được ghi nhận là vẫn tồn tại ở phổi, tim, não và thận, thậm chí ở một số người ban đầu chỉ có các triệu chứng nhẹ. Tốc độ hồi phục chậm giải thích thời gian tồn tại của những gì được gọi là “hội chứng hậu COVID”. Một số người cũng có thể bị hội chứng hậu chăm sóc hồi sức tích cực, một nhóm các triệu chứng đôi khi xảy ra trên những người từng là bệnh nhân ở khoa hồi sức tích cực và liên quan đến yếu cơ, các vấn đề về thăng bằng, suy giảm nhận thức và rối loạn sức khỏe tâm thần đã được quan sát thấy sau khi xuất viện khỏi khoa hồi sức tích cực thường liên quan đến thời gian thở máy kéo dài (19).
Các triệu chứng dai dẳng cũng xảy ra sau khi nhiễm một loại coronavirus khác, SARS-CoV-1, loại vi-rút này đã gây ra dịch hội chứng hô hấp cấp tính nặng (SARS) vào năm 2002-2003. Các triệu chứng dai dẳng giống như hội chứng mệt mỏi mạn tính/viêm não tủy đau cơ (chronic fatigue syndrome/myalgic encephalomyelitis, CFS/ME). Mệt mỏi dai dẳng, đau cơ, trầm cảm và giấc ngủ bị gián đoạn đã khiến bệnh nhân SARS ở Toronto, mà hầu hết là nhân viên y tế, không thể trở lại làm việc trong vòng 20 tháng sau khi nhiễm bệnh (20). Bốn mươi phần trăm trong số 233 người sống sót sau SARS ở Hồng Kông được báo cáo là bị mệt mỏi mạn tính sau khoảng 3 đến 4 năm và 27% số người đạt các tiêu chuẩn do Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (Centers for Disease Control and Prevention, CDC) đưa ra đối với hội chứng mệt mỏi mạn tính/viêm não tủy đau cơ (21). Nhiều người vẫn thất nghiệp và bị xã hội kỳ thị (22).
Bệnh giống hội chứng mệt mỏi mạn tính/viêm não tủy đau cơ, trong đó một số người nhanh chóng khỏi bệnh nhưng những người khác vẫn bị bệnh trong thời gian dài, kéo theo nhiều bệnh truyền nhiễm khác. Ví dụ bao gồm cúm, nhiễm vi-rút Epstein-Barr (tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng – 23), bệnh brucella, sốt Q (nhiễm Coxiella burnetii – 24), nhiễm vi-rút Ebola (25) và nhiễm vi-rút sông Ross (26).
Căn bệnh dai dẳng sau khi bị COVID-19 cũng được cho là giống với hội chứng mệt mỏi mạn tính/viêm não tủy đau cơ (27) và những người bị hội chứng hậu COVID-19 đã tự đặt cho mình cái tên là “những người mắc chứng bệnh kéo dài”. Tuy nhiên, không có bối cảnh rõ ràng về những gì tạo thành hội chứng hậu COVID-19. Nếu không có định nghĩa chính thức được chấp nhận về hội chứng hậu COVID-19 thì rất khó có thể đánh giá mức độ phổ biến của hội chứng này, thời gian kéo dài, ai có nguy cơ bị hội chứng này, nguyên nhân gây ra hội chứng này, sinh lý bệnh học của hội chứng và cách điều trị và phòng ngừa hội chứng này. Nhưng một số nghiên cứu hiện đang bắt đầu xác định nhóm bệnh nhân này.
CDC đã tiến hành một cuộc khảo sát qua điện thoại đa quốc gia vào tháng Tư và tháng Sáu năm 2020 đối với người lớn không nằm viện có kết quả xét nghiệm chuỗi polymerase sao chép ngược dương tính (RT-PCR) đối với bệnh SARS-CoV-2 (28). Những người trả lời được hỏi về đặc điểm nhân khẩu học, tình trạng bệnh mạn tính ở lần khám ban đầu, các triệu chứng xuất hiện tại thời điểm xét nghiệm, các triệu chứng đó đã hết vào ngày phỏng vấn hay chưa và họ đã trở lại trạng thái sức khỏe bình thường tại thời điểm phỏng vấn hay chưa. Trong số 274 người trả lời có triệu chứng tại thời điểm xét nghiệm PCR, khoảng một phần ba số người đã báo cáo họ chưa trở lại trạng thái sức khỏe bình thường khi được phỏng vấn sau xét nghiệm 2 đến 3 tuần. Trong số những người trẻ tuổi, từ 18 đến 34 tuổi, không có bệnh mạn tính, 20% số người chưa trở lại trạng thái sức khỏe bình thường. Tuy nhiên, tuổi càng cao và có nhiều bệnh mạn tính thì càng thường có liên quan đến bệnh kéo dài, tỷ lệ này gặp ở 26% số những người từ 18 đến 34 tuổi, 32% số những người từ 35 đến 49 tuổi và 47% số những người từ 50 tuổi trở lên. Mệt mỏi (71%), ho (61%) và đau đầu (61%) là những triệu chứng thường được báo cáo nhất. Những phát hiện này chỉ ra rằng COVID-19 có thể dẫn đến bệnh kéo dài ngay cả ở những người bị bệnh ngoại trú nhẹ hơn, bao gồm cả thanh niên. Phát hiện này đặc biệt liên quan đến các đợt bùng phát dịch bệnh xuất hiện trong các khuôn viên trường đại học.
Trong một nghiên cứu khác ở Rome, Ý, 143 bệnh nhân (trung bình là 57 tuổi) sau khoảng 2 tuần nằm viện vì COVID-19, nhiều bệnh nhân vẫn phải vật lộn với các triệu chứng trung bình là 60 ngày sau khi khởi phát bệnh; 87% số bệnh nhân vẫn có ít nhất một triệu chứng và 55% số bệnh nhân có từ 3 triệu chứng trở lên (23). Chất lượng cuộc sống trầm trọng hơn đối với 44% số bệnh nhân, với các triệu chứng mệt mỏi (53,1%), khó thở (43%), đau khớp (27%) và đau ngực (22%) dai dẳng ở nhiều bệnh nhân. Không ai bị sốt hoặc bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào của bệnh cấp tính.
Tuy nhiên, nhiều thông tin mô tả nhân khẩu học, thời gian diễn biến và triệu chứng học của hội chứng hậu COVID-19 đã được tạo ra và phân tích bởi chính những người mắc chứng bệnh kéo dài thuộc Nhóm hỗ trợ trực tuyến Body Politic COVID-19 và những người có chuyên môn về nghiên cứu, thiết kế khảo sát và phân tích dữ liệu. Cuộc khảo sát trực tuyến mà họ đã phát triển và nhắm mục tiêu đến những người có các triệu chứng kéo dài hơn 2 tuần đã nhận được 640 phản hồi từ ngày 21 tháng Tư đến ngày 2 tháng Năm năm 2020 (29).
Những người trả lời chủ yếu là người trẻ (63% số người từ 30 đến 49 tuổi), da trắng (77%) và nữ (77%) và sống ở Hoa Kỳ (72%) hoặc Vương quốc Anh (13%). Hầu hết không bao giờ nằm viện, hoặc nếu nằm viện thì không bao giờ nhập viện vào khoa hồi sức tích cực hoặc bị đặt máy thở, do đó, trường hợp của họ về mặt kỹ thuật được coi là “nhẹ”. Nhiều người đã đến khoa cấp cứu/cơ sở chăm sóc khẩn cấp nhưng không bị nhập viện. Tất cả những người trả lời đều được thu nhận, bất kể tình trạng xét nghiệm RT-PCR với SARS-CoV-2. Trong khoảng 25% số người, có RT-PCR dương tính; nhưng gần 50% số người tham gia chưa bao giờ được xét nghiệm vì xét nghiệm trong những tháng đó (tháng Ba và tháng Tư năm 2020) thường chỉ giới hạn với những người nằm viện có các vấn đề hô hấp nặng, các triệu chứng của họ được cho là “kinh điển”, khiến việc xét nghiệm là không cần thiết vào thời điểm các bộ kit xét nghiệm PCR thiếu hụt hoặc việc xét nghiệm bị từ chối vì các triệu chứng của họ không phù hợp với các tiêu chuẩn đặt sẵn.
25% số người trả lời khác cho kết quả xét nghiệm âm tính, nhưng kết quả âm tính không có nghĩa là những người này không mắc COVID-19. Một số có xét nghiệm âm tính có khả năng là kết quả âm tính giả, xảy ra tới 30% số thời gian (30). Những người khác được xét nghiệm tương đối muộn trong quá trình mắc bệnh, vào thời điểm mà vi-rút có thể không còn phát hiện được nữa (31). Trong cuộc khảo sát, những người trả lời có kết quả xét nghiệm RT-PCR âm tính trên thực tế được xét nghiệm muộn hơn một tuần so với những người có kết quả xét nghiệm dương tính.
Các triệu chứng được báo cáo rất đa dạng và trải dài theo hệ thống hô hấp, thần kinh, tim mạch, tiêu hóa và nhiều hệ thống khác. 10 triệu chứng hàng đầu, được 70% số người trả lời báo cáo, bao gồm khó thở, tức ngực, mệt mỏi, ớn lạnh hoặc đổ mồ hôi, đau nhức cơ thể, ho khan, “nhiệt độ tăng cao” (98,8 đến 100° F), nhức đầu và sương mù não/khó tập trung. Mệt mỏi đến mức không thể ra khỏi giường được, nhức đầu dữ dội, sốt (trên 100,1° F) và mất vị giác hoặc mất khứu giác được 40 đến 50% số người trả lời cho biết. Bảy mươi phần trăm (70%) số người đã trải qua những biến động về loại và 89% số người theo cường độ của các triệu chứng trong quá trình có triệu chứng. Một số bệnh nhân ghi nhận rằng các triệu chứng trở lại hoặc tăng cường khi hoạt động thể chất hoặc mạnh nhất vào buổi tối. Khoảng 70% số người khỏe mạnh về mặt thể chất trước khi khởi phát các triệu chứng, nhưng 70% số người cho biết là ít vận động sau khi khởi phát các triệu chứng.
Khoảng 10% số người trả lời đã bình phục, trung bình là khoảng 4 tuần. 90% số người chưa hồi phục có các triệu chứng trong thời gian trung bình là 40 ngày. Một tỷ lệ lớn người trả lời có các triệu chứng trong thời gian từ 5 đến 7 tuần. Cơ hội hồi phục hoàn toàn vào ngày thứ 50 được ước tính là dưới 20%.
Tuy nhiên, kết quả của các khảo sát như thế này có thể bị sai lệch. Người trả lời các khảo sát có thể khác với người không trả lời; ví dụ: có thể có sự sai lệch về giới trong đó nữ giới có nhiều khả năng tham gia các nhóm hỗ trợ và hoàn tất các khảo sát trực tuyến; bệnh nhân bị bệnh nặng hơn có thể không trả lời được hoặc không thể nhớ lại các sự kiện một cách chính xác. Các khảo sát trực tuyến cũng có thể nghiêng về những người trả lời giàu có hơn, trẻ hơn và hiểu biết hơn về máy tính và bỏ qua những người thiểu số có khó khăn về kinh tế, người vô gia cư, những người không có băng thông rộng và máy tính và những người sợ trả lời, chẳng hạn như người di cư không có giấy tờ.
Kể từ khi đưa ra báo cáo của họ, nhóm Hỗ trợ Body Politic COVID-19 đã gặp gỡ nhân viên của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh và Tổ chức Y tế Thế giới (32) và đưa ra một khảo sát thứ hai để lấp đầy những khoảng trống trong báo cáo đầu tiên của họ; kiểm tra các kết quả xét nghiệm kháng thể, các triệu chứng thần kinh và vai trò của sức khỏe tâm thần; và làm tăng sự đa dạng về địa lý và nhân khẩu học (33).
Nhiều người mắc chứng bệnh kéo dài cho biết các triệu chứng dai dẳng của họ đang bị hạ thấp. Họ được cho rằng họ có thể đang phóng đại, tưởng tượng, hoặc thậm chí bịa đặt ra căn bệnh làm thay đổi cuộc sống của họ. Các hoạt động thể chất đơn giản như là ra khỏi giường, chải đầu, chuẩn bị các bữa ăn đơn giản và tắm rửa, có thể khiến một số người mệt mỏi. Không thể chăm sóc cho bản thân và gia đình của họ, không thể làm việc, mất thu nhập và có thể là bảo hiểm y tế dựa vào hãng sở là những yếu tố tạo thêm gánh nặng. Những người lập kế hoạch chăm sóc sức khỏe và những người đề ra chính sách phải có sự chuẩn bị để đáp ứng nhu cầu của nhiều người bị ảnh hưởng bởi căn bệnh này và gia đình của họ trong lúc mà các nghiên cứu đang diễn ra tìm hiểu về nguyên nhân và cách thức làm giảm thiểu hội chứng hậu COVID.

Tài liệu tham khảo
1. Oran DP, Topol EJ: Prevalence of asymptomatic SARS-CoV-2 infection. Annals of Internal Medicine Ngày 3 tháng Sáu năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng Bảy năm 2020. https://www.acpjournals.org/doi/10.7326/M20-3012

2. Backer JA, Klinkenberg D, Wallinga J: Incubation period of 2019 novel coronavirus (2019-nCoV) infections among travellers from Wuhan, China 20-28 tháng Một năm 2020. Eurosurveillance 25 (5):pii=2000062, 2020. https://www.eurosurveillance.org/content/10.2807/1560-7917.ES.2020.25.5.2000062

3. Centers for Disease Control and Prevention: Healthcare workers: Interim clinical guidance for management of patients with confirmed coronavirus disease (COVID-19). Ngày 30 tháng Sáu năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng Bảy năm 2020. https://www.cdc.gov/coronavirus/2019-ncov/hcp/clinical-guidance-management-patients.html

4. Levitan R: Opinion: The infection that is silently killing coronavirus patients. New York Times Ngày 20 tháng Tư năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng Bảy năm 2020. https://www.nytimes.com/2020/04/20/opinion/sunday/coronavirus-testing-pneumonia.html

5. Bonow RO, Fonarow GC, O’Gara PT, et al: Association of coronavirus disease 2019 (COVID-19) with myocardial injury and mortality. JAMA Cardiology 5(7):751-753, 2020.https://jamanetwork.com/journals/jamacardiology/fullarticle/2763844

6. Bhatla A, Mayer MM, Adusumalli S, et al: Covid-19 and cardiac arrhythmias. Heart Rhythm 17(9): 1439-1444, 2020. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/32585191/

7. Su H, Yang M, Wan C, et al: Renal histopathological analysis of 26 postmortem findings of patients with COVID-19 in China. Kidney International 98(1): P219-227, 2020. https://www.kidney-international.org/article/S0085-2538(20)30369-0/fulltext

8. Wood GD, Miller JL: The impact of COVID-19 disease on platelets and coagulation. Pathobiology 88:15-27, 2021. https://www.karger.com/Article/FullText/512007

9. Mei H, Luo L, Hu Y: Thrombocytopenia and thrombosis in hospitalized patients with COVID-19. J Hematol Oncol 13, 161, 2020. Doi: 10.1186/s13045-020-01003-z https://jhoonline.biomedcentral.com/articles/10.1186/s13045-020-01003-z

10. Zong X, Gu Y, Yu H, et al: Thrombocytopenia is associated with COVID-19 severity and outcome: An update meta-analysis of 5637 patients with multiple outcomes. Lab Med 52:10-15, 2021. Doi: 10.1093/labmed/lmaa067 https://academic.oup.com/labmed/article/52/1/10/5905622

11. Varatharaj A, Thomas N, Ellul MA, et al: Neurological and neuropsychiatric complications of COVID-19 in 153 patients: A UK-wide surveillance study. Lancet Psychiatry Ngày 25 tháng Sáu năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng Bảy năm 2020. https://www.thelancet.com/journals/lanpsy/article/PIIS2215-0366(20)30287-X/fulltext

12. Xinhua: Beijing hospital confirms nervous system infections by novel coronavirus. Xinhuanet. 05-03-2020. Truy cập ngày 30 tháng Bảy năm 2020. http://www.xinhuanet.com/english/2020-03/05/c_138846529.htm

13. Poyiadji N, Shahin G, Noujaim D, et al: COVID-19-associated acute hemorrhagic necrotizing encephalopathy: Imaging features. Radiology 269(2): Ngày 31 tháng Ba năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng Bảy năm 2020.https://pubs.rsna.org/doi/10.1148/radiol.2020201187

14. Yaghi S, Ishida K, Torres J, et al: SARS-CoV-2 and stroke in a New York Healthcare system. Stroke 51(7): 2002-2011, 2020. https://www.ahajournals.org/doi/10.1161/STROKEAHA.120.030335

15. Fornell D: Kawasaki-like inflammatory disease affects children with COVID-19. Diagnostic and Interventional Cardiology Ngày 20 tháng Năm năm 2020. Truy cập ngày 23 tháng Bảy năm 2020. https://www.dicardiology.com/article/kawasaki-inflammatory-disease-affects-children-covid-19

16. Whittaker E, Bamford A, Kenny J, et al: Clinical characteristics of 58 children with a pediatric inflammatory multisystem syndrome temporally associated with SARS-CoV-2. JAMA 324 (3): 259-269, 2020. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/32511692/

17. Centers for Disease Control and Prevention: Health Department-Reported Cases of Multisystem Inflammatory Syndrome in Children (MIS-C) in the United States https://www.cdc.gov/mis-c/cases/index.html

18. Centers for Disease Control and Prevention: Information for healthcare providers about multisystem inflammatory syndrome in children. Ngày 28 tháng Tám năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng Một năm 2021 https://www.cdc.gov/mis-c/hcp/

19. Jaffri A, Jaffri UA: Post-intensive care syndrome after COVID-19: A crisis after a crisis? Heart Lung Ngày 18 tháng Sáu năm 2020. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC7301100/

20. Moldofsky H. Patcai J: Chronic widespread musculoskeletal pain, fatigue, depression and disordered sleep in chronic post-SARS syndrome; a case-controlled study. BMC Neurol 11:1–7, 2011. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC3071317/

21. Lam MHB, Wing YK, Yu MWM, et al: Mental morbidities and chronic fatigue in severe acute respiratory syndrome survivors: long-term follow-up. Arch Intern Med 169:2142-2147, 2009. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/20008700/

22. Katz BZ, Shiraishi Y, Mears CJ, et al: Chronic fatigue syndrome following infectious mononucleosis in adolescents: A prospective cohort study. Pediatrics 124: 189-193, 2009.https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC2756827/

23. Morroy G, Keijmel SP, Delsing CE, et al: Fatigue following acute Q fever: A systematic literature review. PloS One 11(5): e0155884, 2016. doi:10.1371/journal.pone.0155884 https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4880326/

24. PREVAIL III Study Group, Sneller MC, Reilly C, et al: A longitudinal study of Ebola sequelae in Liberia. N Engl J Med 380(10):924-934, 2019.https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/30855742/

25. Centers for Disease Control and Prevention: Myalgic encephalomyelitis/Chronic fatigue syndrome: Possible causes. Cập nhật ngày 12 tháng Bảy năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng Chín năm 2020.https://www.cdc.gov/me-cfs/about/possible-causes.html

26. Perrin R, Riste L, Hann M: Into the looking glass: Post-viral syndrome post COVID-19. [công bố trực tuyến trước khi in, ngày 27 tháng Sáu năm 2020]. Med Hypotheses 144:110055, 2020. doi:10.1016/j.mehy.2020.110055 https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC7320866/

27. Tenforde MW, Kim SS, Lindsell CJ, et al: Symptom duration and risk factors for delayed return to usual health among outpatients with COVID-19 in a multi-state health care systems network-United States, Tháng Ba-tháng Sáu năm 2020. MMWR 69:993-998, ngày 31 tháng Bảy năm 2020. https://www.cdc.gov/mmwr/volumes/69/wr/mm6930e1.htm?s_cid=mm6930e1_e&deliveryName=USCDC_921-DM33740

28. Carfi A, Bernabei R, Landi F, et al: Persistent symptoms in patients after acute COVID-19. JAMA 324:603-605, 2020. https://jamanetwork.com/journals/jama/fullarticle/2768351

29. Patient-led Research for COVID-19: Report: What does Covid-19 recovery actually look like? Ngày 11 tháng Năm năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng Chín năm 2020. https://patientresearchcovid19.com/research/report-1/

30.Krumholz HM: If you have coronavirus symptoms, assume you have the illness, even if you test negative. New York Times ngày 1 tháng Tư năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng Chín năm 2020. https://www.nytimes.com/2020/04/01/well/live/coronavirus-symptoms-tests-false-negative.html

31. Kucirka LM, Lauer SA, Laeyendecker O, et al: Variation in false-negative rate of reverse transcriptase polymerase chain reaction-based SARS-CoV-2 tests by time since exposure. Ann Intern Med 173:262-267, 2020. https://www.acpjournals.org/doi/10.7326/M20-1495

32. Collins F: Body Politic COVID-19 Support Group: Citizen scientists take on the challenge of long-haul COVID-19. NIH Director’s Blog ngày 3 tháng Chín năm 2020. Truy cập ngày 22 tháng Chín năm 2020. https://directorsblog.nih.gov/tag/body-politic-covid-19-support-group/

33. Akrami A, et al: Online survey on recovery from COVID-19 (survey 2). Patient-led research for Covid-19. Truy cập ngày 22 tháng Chín năm 2020. https://patientresearchcovid19.com/survey2/

DI CHỨNG HẬU COVID(CÚM VŨ HÁN)

Nghiên cứu của Sandra Lopez‑Leon và cộng sự từ 21 phân tích gộp trên gần 48.000 bệnh nhân (17-87 tuổi) ghi nhận có đến 55 triệu chứng tồn tại lâu dài sau khi hồi phục COVID-19 cấp.
Đa cơ quan đều bị tác động sau khi mắc COVID-19



Biểu hiện đa cơ quan của hội chứng hậu COVID và tần suất mắc của từng triệu chứng (Sandra Lopez)
Mệt mỏi
Nhiều báo cáo cho thấy mệt mỏi là triệu chứng thường gặp nhất ở bệnh nhân mắc hội chứng hậu COVID, bất kể mức độ nặng của giai đoạn cấp tính, dù nhập viện hay không nhập viện. Tỉ lệ bệnh nhân bị mệt mỏi mạn tính rất khác nhau ở các báo cáo, từ 50-90%.
Phương pháp điều trị chính yếu được khuyến cáo hiện nay vẫn là tập vật lý trị liệu vận động với cường độ tăng dần theo thời gian, được thiết kế tùy khả năng từng người, tránh các hoạt động quá sức và thường bắt đầu bằng những hoạt động đơn giản nhất hằng ngày dưới sự hướng dẫn của chuyên gia vât lý trị liệu.




Triệu chứng thường gặp nhất ở bệnh nhân hậu COVID theo hệ cơ quan
Nhiều bất thường hô hấp
Ho, khó thở, đặc biệt là khó thở khi gắng sức, giảm khả năng vận động là triệu chứng nổi bật.
Tỉ lệ bệnh nhân bị di chứng phổi hậu COVID khoảng 20-40%. Trong đó, khó thở là triệu chứng thường gặp nhất với tỉ lệ mắc lên đến 40-66%.
Các bất thường chức năng và hình ảnh học lâu dài thường gặp nhất ở những bệnh nhân bị viêm phổi nặng do COVID-19 cấp, đặc biệt những người cần thở oxy lưu lượng cao (HFNC) và thở máy.
Sự hình thành tổn thương xơ hóa ở phổi cũng xảy ra ở bệnh nhân lớn tuổi, có thời gian nằm viện dài, có bệnh phổi mạn tính và xơ hóa phổi có liên quan đến sự tăng cao nồng độ các cytokines trong máu.
Tình trạng xơ hóa này tạo điều kiện cho vi khuẩn thường trú trong phổi, từ đó tăng nguy cơ nhiễm trùng phổi sau khi khỏi COVID-19, góp thêm một nguyên nhân gây khó thở.
Để tầm soát và đánh giá khó thở, nhiều khuyến cáo theo dõi độ bão hòa oxy máu ngoại vi (SpO2) tại nhà, kiểm tra khả năng vận độngn - phù hợp với từng bệnh nhân, ví dụ như test đứng lên- ngồi xuống trong 1 phút.
Đối với những bệnh nhân khó thở kéo dài trên 12 tuần sau nhiễm trùng thì cần loại trừ các tổn thương thực thể ở phổi bằng xquang ngực thẳng, có thể cần chụp CTscan ngực độ phân giải cao và các thăm dò chức năng hô hấp.
Những chiến lược kiểm soát khó thở không dùng thuốc được công nhận bao gồm: các bài tập thở, tập hồi phục chức năng phổi, duy trì tư thế tối ưu để giảm khó thở tư thế.
Những bệnh nhân có bằng chứng xơ phổi hậu COVID được khuyến cáo điều trị như bệnh xơ phổi vô căn theo hướng dẫn của NICE. Những bệnh nhân bị đợt bùng phát của giãn phế quản hậu COVID, có thể dùng kháng sinh, kết hợp với các thủ thuật dẫn lưu đường thở để tống đàm ra ngoài.
Một số nghiên cứu ở Anh và Trung Quốc cho thấy dùng corticosteroids ở những bệnh nhân di chứng phổi hậu COVID có thể làm cải thiện đáng kể triệu chứng.



Những di chứng sau viêm phổi do SARS-COV2 được ghi nhận trên phim CTscan ngực sau 6 tháng theo dõi. A-dãn phế quản co kéo (mũi tên). B- xẹp phổi dạng đường (mũi tên). C- xơ phổi dạng tổ ong. D và E- dày màng phổi tạng (mũi tên)
Di chứng tim mạch
Nhiều nghiên cứu cho thấy những bất thường liên quan đến tim vẫn tiếp tục diễn tiến ở nhiều người mắc COVID-19 ở thời điểm 2 tháng và 6 tháng sau nhiễm với tỉ lệ lần lượt khoảng 20-60% và 5-9%. Người trẻ, vận động viên các môn thể thao đối kháng ít có nguy cơ mắc các vấn đề tim mạch hậu COVID hơn nhóm bệnh nhân khác .
Các biểu hiện đau ngực, tăng men tim kéo dài - thường được quy cho viêm cơ tim tiếp diễn từ đợt cấp; hồi hộp, mạch nhanh khi nghỉ ngơi, hội chứng nhịp nhanh tư thế đứng mới xuất hiện - do rối loạn hệ thần kinh tự trị.
Những bệnh nhân có biểu hiện tim mạch kéo dài trên 4 tuần sau nhiễm COVID-19 cần được khám lâm sàng tim mạch. Đối với những bệnh nhân có biểu hiện đau ngực, phải được tầm soát các biến cố tim mạch nguy hiểm.
Nhiều bằng chứng cho thấy viêm cơ tim hậu COVID có thể tự khỏi theo thời gian, tuy nhiên, việc dùng các biện pháp hỗ trợ miễn dịch sẽ giúp bệnh nhân nhanh hồi phục hơn.



Tổn thương tim mạch do COVID-19 - Sinh bệnh học và biểu hiện lâm sàng
Di chứng tâm thần kinh đa dạng
Triệu chứng thần kinh thường gặp nhất là đau đầu (bao gồm cả đau nửa đầu), được ghi nhận lên đến 40-60% số bệnh nhân. Kế đến là những than phiền về tình trạng mất mùi - vị kéo dài, lên đến 6 tháng hoặc hơn ở những người hậu COVID (tỉ lệ bệnh nhân bị mất mùi - mất vị kéo dài sau COVID-19 khoảng 10-40%).
Nhiều trường hợp bệnh lý thuyên tắc não - đột quỵ do tăng đông trong COVID-19, suy giảm nhận thức và tư duy: giảm khả năng tập trung, giảm trí nhớ, rối loạn về tiếp nhận ngôn ngữ (nghe, đọc được mà không hiểu), rối loạn hành vi (giảm khả năng kiểm soát và điều chỉnh hành vi), hay thậm chí là Alzeimer hay sảng/loạn thần.
Triệu chứng về nhận thức được than phiền nhiều nhất là "brain fog" - tạm dịch lú lẫn, hay quên - tư duy trở nên mơ hồ, lú lẫn, chậm chạp, kém nhạy bén...
Rối loạn tâm lý
Rối loạn giấc ngủ, rối loạn lo âu và trầm cảm được báo cáo nhiều nhất.
Những người già, người sống trong viện dưỡng lão, người sa sút trí tuệ dễ mắc các triệu chứng tâm lý hậu COVID nhất. Nguyên nhân của tình trạng này được quy cho các tác động tiêu cực của đại dịch như: mất người thân, bị cô lập, cách ly xã hội, mất việc/không có khả năng làm việc sinh hoạt như thường ngày mang đến nỗi lo về tài chính, sự buồn chán, cô đơn, sống trong cuộc khủng hoảng sức khỏe toàn cầu…
Việc điều trị các triệu chứng này cần được tiếp cận một cách bài bản, từ sàng lọc, đánh giá chẩn đoán đến quản lý lâu dài y như những bệnh nhân không mắc COVID-19.
Những biểu hiện ít gặp hơn
Di chứng trên da - lông - tóc
Rụng tóc là triệu chứng thường gặp nhất trong nhóm này, báo cáo lên đến 20-30% trường hợp hậu COVID. Nguyên nhân là do tổn thương nang tóc làm mất khả năng mọc tóc mới.
Ngoài ra các sang thương ở da cũng có thể gặp (15-64% ở giai đoạn cấp, 3-5% sau 6 tháng). Có 5 biểu hiện sang thương da chính trên bệnh nhân COVID-19, được mô tả ở bảng dưới.



Một số sang thương da trên bệnh nhân COVID-19
Suy thận cấp
Tỉ lệ bệnh nhân bị tổn thương thận cấp (AKI) do COVID-19 khoảng 5%, và lên đến 30% ở bệnh nhân COVID-19 nhập ICU. Nhiều báo cáo cho thấy nhiều bệnh nhân tiến triển thành suy thận mạn sau đó, một số ít tử vong do suy thận cấp.
Ở những bệnh nhân cần lọc máu liên tục trong giai đoạn cấp do tổn thương thận cấp, chỉ có 46% sống sót sau 60 ngày. Trong số đó, chỉ có 84% hồi phục chức năng thận bình thường.
Di chứng nội tiết
Biểu hiện rối loạn nội tiết gồm: nhiễm toan cetone do tăng đường huyết trên người chưa từng chẩn đoán đái tháo đường trước đây, viêm giáp bán cấp Hashimoto và nhiễm độc giáp, bệnh Graves, hay loãng xương.
Di chứng tiêu hóa - gan mật
Tiêu chảy kéo dài do virus xảy ra ở COVID-19 đã được báo cáo. Các nghiên cứu hiện đang đánh giá hậu quả lâu dài của COVID-19 đối với hệ tiêu hóa, bao gồm hội chứng ruột kích thích sau nhiễm trùng và chứng khó tiêu, được quy cho rối loạn hệ khuẩn đường ruột...
Hội chứng viêm đa cơ quan ở trẻ em (MIS-C)
Các biểu hiện lâm sàng của MIS-C bao gồm sốt, đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy, phát ban da, tổn thương da và niêm mạc, hạ huyết áp và tổn thương tim mạch và thần kinh.
Thời điểm xuất hiện MIS-C hầu hết bệnh nhân âm tính với nhiễm trùng cấp tính nhưng lại dương tính với kháng thể cho thấy rằng MIS-C có thể là kết quả của một phản ứng miễn dịch mắc phải thay vì nhiễm virus cấp tính.
Các khuyến cáo điều trị hiện tại bao gồm liệu pháp điều hòa miễn dịch với globulin miễn dịch tiêm tĩnh mạch, glucocorticoid bổ trợ và aspirin liều thấp. Điều trị chống đông máu bằng enoxaparin hoặc warfarin và aspirin liều thấp được khuyến cáo một số trường hợp đặc biệt...

BS PHƯƠNG THY - BS THANH LỊCH - BS HUYỀN TRÂM (BV ĐA KHOA QUỐC TẾ NAM SÀI GÒN)

Thứ Bảy, 27 tháng 11, 2021

Quy luật của người giàu: 3 quan điểm về tiền bạc quyết định vị thế của bạn trên đường đời, ngộ ra càng sớm, thành công càng gần







Không phải bao nhiêu tiền mà quan điểm, góc nhìn về tiền mới thể hiện mức độ trí thức và trưởng thành của mỗi người. Đó chính là nguồn gốc của sự giàu có mà ai cũng kiếm tìm.
Trong mỗi chúng ta, ai cũng mơ ước trở thành một người giàu có và đặt ra cho mình mục tiêu "cao cả" nào đó. Nhưng rồi, kết quả lại không mấy suôn sẻ vì bản thân luôn có tâm lý "nửa đường đứt gánh".
Khi vui, chúng ta sẽ làm việc năng suất hơn, còn những lúc tâm trạng tồi tệ thì bản thân sẽ bắt đầu có những suy nghĩ tiêu cực. Vả lại, nhiều lúc chúng ta còn hay mượn cớ che giấu đi sự lười biếng của mình, luôn phàn nàn về sự bất công của thế giới, luôn than trời trách phận, nhưng không hề suy ngẫm xem, vấn đề có phải xuất phát từ bản thân mình hay không?
Người như vậy giống như một diễn viên mất trí và không có lập trường. Họ thoạt nhìn có vẻ rất nỗ lực, nhưng thật ra họ chỉ là những kẻ không biết làm gì. Vì họ thiếu đi một thứ quan trọng nhất: Sự suy ngẫm! Sự thiếu sót này ảnh hưởng rất lớn đến con đường làm giàu của chúng ta.
Quy luật của giới thượng lưu: Quan niệm của bạn sẽ quyết định sự giàu nghèo của chính bạn! 3 quan niệm về đồng tiền sau đây rất có ích cho bạn và mọi người.
1. Hiểu đúng về chức năng của đồng tiền




Tiền không phải là vạn năng, nhưng không tiền, thì mọi thứ đều bất khả năng. Ảnh: Nidbox
Tiền không phải là tất cả, nhưng không có tiền thì tuyệt đối không được. Đây là quan điểm giàu có của nhiều người. Tuy nhiên, những người có số mệnh "giàu sang" lại có suy nghĩ ngược lại: "Không có tiền tất nhiên không thể làm gì cả, nhưng tiền không là tất cả." Nói một cách cụ thể, sức mạnh của đồng tiền hầu hết nằm ở việc mua bán, trao đổi hàng hóa.
Bên cạnh đó, tiền chỉ là kim loại hoặc giấy. Những người bị lạc ở sa mạc sẽ chọn cách bỏ bớt tiền ra để làm mát cơ thể. Bởi vì đối với họ trong lúc tuyệt vọng này, đây chính là chức năng duy nhất mà tiền mang lại. Khi tiền bạc không còn chức năng mua bán nữa, thì tiền bạc sẽ không còn giá trị và quyền lực.
Tiền bạc là công cụ giao dịch của nhân loại để trao đổi tư liệu sinh hoạt, đảm bảo sự tồn tại và phục vụ nhu cầu cũng như mục đích hưởng thụ. Khi bản thân tích lũy tiền bạc đến một số lượng nhất định, quyền lực và sự cám dỗ mà tiền mang lại là vô hạn. Tuy nhiên, "nước có thể đẩy thuyền ra khơi, nhưng chính nước cũng có thể lật úp con thuyền". Vì vậy, sống trong xã hội có quá nhiều cách để làm giàu như ngày nay, thì việc làm thế nào để nhìn nhận và theo đuổi đồng tiền một cách đúng đắn vẫn là một chủ đề đáng để ta suy ngẫm.
Nếu một ngày nào đó, tất cả mọi thứ trên thế giới đều có thể bị tiền chiếm đoạt, thì nhân loại sẽ mất đi sự tự do của mình. Họ sẽ bị hủy diệt, bởi vì nhiều thứ trong nhân loại không thể mua được bằng tiền. Một khi con người bị tiền chiếm hữu, họ sẽ dùng chính đồng tiền để trao đổi, theo một hướng nghĩ nào đó, lúc ấy chính con người cũng bị diệt vong rồi.

2. Tiền bạc không bằng của cải




Tiền là cần thiết và quan trọng nhưng đừng nghĩ rằng đó là thứ duy nhất nên theo đuổi trong cuộc đời mỗi con người. Ảnh: Internet
Tiền bạc đúng là có khả năng đảm bảo cho ta về mặt kinh tế, nhưng trong khái niệm của cải, thì tiền bạc lại được xếp sau cùng. Có thể thấy, của cải có rất nhiều loại. Tiền chỉ là một phần nhỏ trong số đó. Đặc biệt, tiền bạc không thể được coi là loại của cải duy nhất. Chính con người đã vật chất hóa và thực dụng hóa tiền bạc quá mức. Họ nghĩ rằng nếu không làm vậy, của cải trong cuộc sống sẽ dễ dàng bị mất. Tuy nhiên, những người giàu thật sự thường hiểu rất rõ tiền không là của cải duy nhất trong cuộc đời.
Khi con người làm chủ đồng tiền và biết kiểm soát chúng một cách hợp lý thì tiền bạc sẽ mang lại hạnh phúc cho chính họ. Khi con người trở thành nô lệ của đồng tiền và bị đồng tiền điều khiển, chính con người lại tự rước họa vào bản thân. Do đó, nếu bạn muốn trở thành một người giàu có thực sự, bạn phải có khái niệm tiền bạc.
Chúng ta phải sử dụng tiền một cách hiệu quả và không để bị tiền thao túng, công dụng lớn nhất của đồng tiền chính là chia sẻ và sáng tạo. Chỉ dưới tiền đề này, tiền mới có thể mang lại hạnh phúc thực sự cho con người. Vì vậy, chúng ta nên nhận ra rằng kiếm tiền là để hạnh phúc. Nếu bạn mải mê theo đuổi tiền bạc mà bỏ bê cuộc sống, đền bù tinh thần theo kiểu phô trương thì bạn đang sống cuộc sống lãng phí. Đây là một quan niệm tiền bạc sai lầm.

3. Học cách "tiền đẻ ra tiền"




Thu nhập chỉ có thể tăng lên khi bạn sẵn sàng làm việc đó. Ảnh: Nidbox

"Tiền đẻ ra tiền", nếu bạn sử dụng đúng phương pháp, đây thực sự là một điều rất đơn giản. "Tiền đẻ ra tiền" là phương pháp đầu tư và quản lý tài chính. Không phải lúc nào mọi người cũng có thể kiếm tiền bằng cách bán sức lực và thời gian của mình. Nhất là khi bản thân không còn trẻ, chúng ta càng phải biết và tận dụng triệt để phương pháp này.
Trên thực tế, có nhiều cách để kiếm tiền bao gồm lãi suất và các sản phẩm tài chính. Tiền lãi, chẳng hạn như tiền gửi ngân hàng hoặc các khoản vay tư nhân, là khoản tiền được sinh ra trong một thời gian nhất định. Phương pháp này tương đối an toàn, nhưng lãi suất thấp. Hiện nay, nhiều người cao tuổi và những người tương đối bảo thủ thường áp dụng phương pháp quản lý tài chính này.
Các sản phẩm tài chính, quỹ, ngoại hối, vàng... Đây là tất cả các phương pháp đầu tư thu được lợi nhuận thông qua chênh lệch giá mua vào - giá bán ra. Giá mua vào và bán ra đó luôn có tổng bằng 0 trên thị trường. Điều này đòi hỏi sự giúp đỡ của các nhà quản lý tài chính có kỹ năng nhất định và trình độ cao.
Điều quan trọng nhất là sự an toàn của các quỹ. Vì với phương thức kiếm tiền truyền thống, nếu bạn không đầu tư về mặt thời gian, thể lực hay kỹ thuật, bạn sẽ không có thu hoạch hay tiếng nói nào cả. Nhưng đầu tư và quản lý tài chính không giống nhau, một khi đã bỏ tiền vốn ra đầu tư, nếu không có cách quản lý phù hợp sẽ dễ bị thua lỗ.
Cách đơn giản nhất là theo xu hướng và lãi kép. Có một câu nói rằng: "Chỉ cần gặp đúng thời, thì heo cũng có thể bay!" Đây chính là cách kiếm tiền dễ nhất. Nếu thị trường cổ phiếu đang thuận lợi, thì bạn có thể mua vào hay bán ra; nếu thị trường bất động sản đang thuận lợi, bạn có thể giữ nhà đất và bán ra vào lúc thích hợp, lợi nhuận có thể thu được phụ thuộc vào chính năng lực của bạn.



Muốn đổi quả thì phải đổi gốc, muốn thay đổi hiện thực thì phải thay đổi nội tâm. Ảnh: Internet
Kết luận: Đừng đặt xe trước khi có ngựa, đừng đảo ngược lại vai trò của tư duy. Hãy từ bỏ suy nghĩ vì tiền bạc mới làm, mới suy nghĩ, bởi vì suy nghĩ là nguồn gốc của sự giàu có. Những người giỏi tư duy, suy ngẫm sẽ kiểm soát được tiền tài, còn những người không chịu tư duy rốt cuộc sẽ bị đồng tiền chi phối ngược lại.

Theo Aboluowang

(Mai Ngọ Theo Trí thức trẻ )

Tỷ phú nổi tiếng dặn con: Có 3 loại người KHÔNG NÊN KẾT BẠN, chơi chung chỉ tổ kéo nhau đi xuống chứ chẳng giúp ích gì!

Nhắc đến tỷ phú John Davison Rockefeller Sr. (8/7/1839 – 23/5/1937) là nhắc đến sự giàu có tột bậc. Ông Vua dầu mỏ này được xem là người Mỹ giàu có nhất mọi thời đại và người giàu nhất trong lịch sử hiện đại.
Năm 1916, khối tài sản của Rockefeller Sr. chiếm gần 2% giá trị nền kinh tế quốc gia, và nếu được điều chỉnh theo lạm phát thì ngày nay tài sản của ông sẽ có giá trị khoảng 418 tỷ USD. Con số này lớn hơn nhiều so với tài sản của Jeff Bezos, người giàu nhất hiện nay với khối tài sản ròng khoảng 144 tỷ USD.



Tỷ phú John Davison Rockefeller Sr.

Bên cạnh sự giàu có, còn một điều nữa mà người đời nhắc đến Rockefeller Sr., đó là trí tuệ xuất chúng và cách nuôi dạy con cái quá đỗi tuyệt vời. Trong suốt cuộc đời mình, Vua dầu mỏ đã viết cho con trai tổng cộng 38 lá thư, kể về quãng đường làm giàu của ông. Đồng thời vị tỷ phú cũng dặn con những bài học cuộc sống quý báu. Chính những lá thư này đã giúp các đời con cháu của dòng tộc Rockefeller tiếp tục thịnh vượng, phá bỏ lời nguyền "không ai giàu 3 họ".
Trong các bức thư, vị tỷ phú vĩ đại từng dặn các con KHÔNG ĐƯỢC KẾT BẠN với 3 kiểu người. "Nếu con muốn phát triển tốt hơn thì 3 loại người này không nên thân thiết", ông Rockefeller Sr. dặn dò. Vậy 3 kiểu người đó là như nào?
01.Những người thích ở trong vùng an toàn
Tỷ phú Rockefeller từng viết: "Những người thất bại thường có một vấn đề chung, họ chỉ thích sự ổn định hiện tại và không chịu thay đổi. Ta cho rằng, đây là một hành động tự lừa dối và tự hủy hoại bản thân". Thế giới không ngừng phát triển, bạn sẽ thụt lùi nếu cứ đi ngược dòng.
Trong cuộc sống, chúng ta thường thấy nhiều đứa trẻ như vậy. Khi điểm số trên lớp tương đối ổn định, trẻ sẽ thể hiện tâm lý thoải mái và không cố gắng hoàn thành thật tốt công việc. Trẻ nghĩ mình không cần chiếm vị trí thứ nhất, vị trí thứ mười cũng chẳng cách xa vị trí đầu tiên cho lắm.
Nhưng nhiều năm sau bạn sẽ thấy một sự thật: Đứa trẻ đứng đầu trong kỳ thi sẽ luôn chiếm vị trí đầu, còn đứa trẻ thứ mười dần tụt xuống vị trí thứ 20 trong lớp. Một khi con người mất đi động lực tiến lên, họ sẽ ngày càng cách xa thành công.



Tỷ phú John Davison Rockefeller Sr. bên gia đình.

02.Tiêu hết số tiền mình có và tiết kiệm hết số tiền mình kiếm được
Có hai kiểu người trên thế giới sẽ không bao giờ thành công được. Một là những người tiêu hết toàn bộ số tiền mình có và hai là những người tiết kiệm hết số tiền mình kiếm được.
Kiểu người thứ nhất tồn tại rất nhiều trong xã hội. Họ vui chơi bất kể đêm ngày, như thể sẽ chẳng còn ngày mai. Họ sẵn sàng tiêu sạch tiền và không biết thiết lập các khái niệm quản lý tài chính. Với phong cách sống đó, họ chẳng thể nào khiến "tiền sinh ra tiền".
Và kiểu người thứ hai cũng chẳng thể thành công được. Như chúng ta đều biết, những người giàu không trở nên giàu có vì tiết kiệm tiền. Trong quá trình tiêu tiền, họ tích lũy kiến thức quản lý tài chính, đầu tư chính xác và biến nó thành khối tài sản khổng lồ. Đó mới là cách để thành công, giàu có.
Ngay từ nhỏ, cha mẹ nên dạy con khái niệm quản lý tài chính. Đừng nghĩ rằng trẻ còn nhỏ thì không nên bận tâm về chuyện tiền bạc. Ngược lại, trẻ cần hình thành quan niệm đúng đắn về tiền. Hãy dạy cho trẻ biết, mỗi đồng tiền kiếm được đều nhờ công sức lao động, đồng thời mở mang cho trẻ những khái niệm tài chính, cách kiếm tiền đúng đắn, cách phán đoán các giá trị và tiêu chuẩn đạo đức.


03.Luôn đổ lỗi cho người khác, không nhìn ra vấn đề của mình
"Một khi kẻ thua cuộc tìm được lý do chính đáng, anh ta sẽ lấy cớ này để giải thích và quy kết trách nhiệm cho người khác. Một người như vậy sẽ không tìm ra lý do mình thất bại mà chỉ biết tự an ủi bản thân khi thấy người khác cũng thất bại", tỷ phú Rockefeller viết.
Chúng ta phải giáo dục con cái dũng cảm đối mặt với thất bại, theo bước người chiến thắng, nhìn thấy sự xuất sắc của của họ mà học hỏi. Có như vậy chúng ta mới tiến bộ được. Nhìn người khác rồi rút ra vấn đề mình đang gặp phải chính là khả năng của người thành công.

Theo Thanh Hương